Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án

Luật Hùng Cường

Email: lsnguyenlong@gmail.com

Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
08/03/2021 04:38 PM 1996 Lượt xem

    Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án

    Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực từ ngày 1-1-2021. Luật gồm 4 chương, 42 điều.

    Tại Điều 4 nêu rõ, hòa giải viên, các bên, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác được mời tham gia hòa giải, đối thoại không được tiết lộ thông tin mà mình biết được trong quá trình hòa giải, đối thoại.

    Tại Điều 19 Luật quy định 7 trường hợp không tiến hành hòa giải, đối thoại tại Tòa án: Yêu cầu đòi bồi thường do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước; vụ việc phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội; đương sự đã được mời tham gia hòa giải, đối thoại hợp lệ lần 2 mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan hoặc không thể tham gia hòa giải, đối thoại được vì lý do chính đáng.

    Đồng thời, trường hợp một bên vợ hoặc chồng trong tranh chấp ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự; một trong các bên đề nghị không tiến hành hòa giải, đối thoại; một trong các bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính; trường hợp khác theo quy định của pháp luật cũng không được tiến hành hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

     TAND tối cao là cơ quan cấp chứng chỉ bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho hòa giải viên. Những người đã là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Thanh tra viên, Chấp hành viên thi hành án dân sự, Thẩm tra viên chính, Thẩm tra viên cao cấp, Thư ký viên chính, Thư ký viên cao cấp… thì đương nhiên có thể là hòa giải viên.

    Luật cũng quy định sau khi nhận được thông báo của Thẩm phán phụ trách hòa giải, đối thoại về việc chuyển vụ việc đến hòa giải viên để tiến hành hòa giải, đối thoại. Người bị kiện có quyền đồng ý, từ chối hoặc chấm dứt hòa giải, đối thoại vào bất kỳ thời điểm nào và yêu cầu hòa giải viên chuyển vụ việc cho tòa án giải quyết theo trình tự tố tụng.

    Trong quá trình hòa giải, đối thoại không được ghi âm, ghi hình, ghi biên bản hòa giải, đối thoại. Việc lập biên bản chỉ được thực hiện để ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại theo quy định tại điều 31. Hòa giải viên, các bên chỉ được ghi chép để phục vụ cho việc hòa giải, đối thoại và phải bảo mật nội dung đã ghi chép.

    Chi phí hòa giải, đối thoại tại Tòa án do ngân sách nhà nước bảo đảm, trừ một số trường hợp.

     

    Zalo
    Hotline